Saturday, November 15, 2008

“Tình người- tặng phẩm Chúa ban”

Trong lần thứ hai tới Mỹ, tôi có may mắn hiểu biết thêm về tôn giáo. Những buổi tới nhà thờ tại Mỹ khiến tôi hết sức ngạc nhiên và thích thú. Hình ảnh nhà thờ trong tôi từ xưa luôn gắn với tháp chuông cao cổ kính, đức cha trịnh trọng áo mũ cân đai đạo mạo giao giảng, các con chiên quỳ lạy ê a thành kính đọc kinh thánh đã đuợc thay thế. Nhà thờ ở đây đuợc xây dựng khá hiện đại, tầng trên có hai hội truờng lớn, một hội trường dành cho những nguời lớn tuổi và một cho những nguời trẻ; cả hai đuợc trang bị nhiều phương tiện kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, màn hình khổ lớn hiện đại như một rạp hát.
Mục sư mặc quần bò, áo sơ mi bỏ ngoài quần, vui vẻ đứng giữa sân khấu thuyết giảng. Giọng nói của ông truyền cảm, ấp áp, nội dung giản dị, dễ hiểu song rất thông tuệ. Xen giữa bài thuyết pháp là những bài hát về niềm tin, tình yêu và sự hy vọng mà thuờng là nguời ngồi duới cùng đứng lên hòa âm với dàn đồng ca. Bầu không khí không hề trang nghiêm mà vui vẻ, nhẹ nhàng như sinh hoạt câu lạc bộ giữa những nguời cùng sở thích, cùng niềm tin.
Tầng trệt của nhà thờ có tới hơn chục phòng lớn nhỏ chuyên dùng để con em các tín đồ đến “học mà chơi, chơi mà học” với những nội dung hoàn toàn không dính dáng đến Kinh thánh. Chúng đựợc chia thành những nhóm cùng độ tuổi và mỗi nhóm được ít nhất 3 thiện nguyện viên hướng dẫn vui chơi. Bọn trẻ con rất sung sướng mỗi khi đến sinh hoạt tại nhà thờ vào tối thứ Tư và sáng Chủ Nhật hàng tuần.
Hóa ra cùng lấy Kinh thánh làm căn bản cho niềm tin, cùng có Đức Chúa nhưng đạo Baptist có cách giải thích kinh thánh khác với đạo Thiên chúa, không công nhận vai trò lãnh đạo của Giáo hoàng cũng như bất cứ thứ bậc tôn ty trật tự trên duới nào. Baptist cung không phải là đạo Tin Lành như tôi từng cho là và một khác biệt nữa là chỉ kết nạp những nguời trên 18 tuổi vào giáo phái…
Thật thiệt thòi khi thế hệ chúng tôi lớn lên trong hoàn cảnh Nhà thờ đóng cửa, Chùa chiền ít người lai vãng như chìm vào lãng quên; qua sách báo và học đường, nhiều người như tôi coi vô thần là lẽ sống đương nhiên. Sau những lần đến nhà thờ tại Mỹ, tôi tìm hiểu, đọc nhiều về hội thánh Baptist. Sự cách tân của hội thánh này trong Thiên chúa giáo có phần nào giống với những cải cách mà thiền sư Thích Nhất Hạnh thể hiện trong Đạo Phật mà tôi có cơ duyên nghe chính thầy thuyết giảng. Như tôi hiểu, nghĩa là không nệ cổ, tuy cũng dựa căn bản vào Kinh Thánh, Kinh Phật nhưng đem rất nhiều văn hóa mới và “đời thường” vào các bài thuyết giảng và các hoạt động khác.
Tôi đã có ý tìm đến giáo phái Baptist khi trở lại Úc. Thế nhưng ý định vẫn chỉ là dự định. Về mặt nào đó, sự thiệt thòi mà tôi nhắc đến ở trên cũng gây ảnh hưởng tới con của tôi. Cho dù lớn lên trong thế giới văn minh và được tiếp nhận học vấn của một nước có nền giáo dục phát triển, cho dù có tính cách mạnh mẽ, có bản lĩnh và sớm xác định được ước vọng của mình, hình như các con của tôi vẫn cần có thêm sự hiểu biết và niềm tin tôn giáo?
Anh trai tôi là một Phật tử có nhiều hoạt động trong lĩnh vực tâm linh và khôi phục văn hóa dân tộc cổ truyền. Song điều đó không ngăn cản con gái anh tìm đến sinh hoạt tại giáo phái Baptist khi sinh sống tại Mỹ. Bản thân tôi tin rằng, chính những người bạn cùng niềm tin tôn giáo với cháu gái tôi đã giúp cháu mình vượt qua được căn bệnh ung thư hiểm nghèo.
Khi khỏi bệnh, cháu gái tôi đã viết “A Tribute” . Tôi rất xúc động khi đọc bài: “A Tribute” và tôi nghĩ phải dịch ngay bài đó để mọi người cùng đọc, cùng rung cảm trước tình người mà cháu tôi đón nhận nơi xa xứ. Dịch xong toàn bài mới ngớ người trước từ “A Tribute”! Trong từ điển có nghĩa là vật cống (quý giá), ngoài ra có thể dùng “Lời cảm tạ”; tôi nghĩ cũng đúng nhưng vẫn không hài lòng.
 Tôi hình dung buổi lễ tại nhà thờ vào lúc mục sư đọc bài của cháu tôi. Hơn 2000 nghìn người chắc ngồi kín cả hội trường và cả trên gác, và có lẽ còn có rất đông người ngồi ngoài sảnh nghe lời mục sư qua hệ thống loa. Như cháu tôi viết, những giọt nước mắt trào ra của mục sư và của mọi người, là lẽ đương nhiên.  Chắc sau khi đọc thư của cháu tôi, mục sư sẽ có bài thuyết giảng cùng chủ đề và xen kẽ sẽ lại có những bài hát hết sức truyền cảm của ban nhạc mà rất nhiều người ngồi dưới cùng cất tiếng hòa theo? Khi đó bài cháu tôi viết chính là những “Lời tri ân” của cháu tôi đối với bạn bè gần xa, đối với phước lành mà Chúa ban cho.
Tuy nhiên, với những ai không đi lễ nhà thờ và đọc bằng Tiếng Việt, có lẽ phải đặt tiêu đề hợp nghĩa hơn cho bài viết. Tôi đọc lại nguyên bản và “tóm” được ý chính như sợi chỉ xuyên suốt toàn bài “I truly believe that my friends are gift from God” và thế là tiêu đề “Quà tặng từ Thượng đế” thành hình. Tôi đọc lại bản dịch lần nữa và nhận ra cần phải đổi là “Quà tặng từ Chúa” hay “Món quà Chúa ban” hay “Tình người- tặng phẩm Chúa ban”. Có lẽ câu cuối tôi dịch: “Chúa chính là niềm tin, hy vọng và cuộc sống của tôi” chưa diễn tả hết được những ý nghĩ chân thực của cháu tôi?
2008
Nguyễn Quang Đạo

Món quà Chúa ban
Tôi vẫn nhớ như in ngày bác sĩ gia đình gọi điện thoại nói ông hơi lo ngại về cái bướu nhỏ khác thường tại cổ tôi. Nghe âm điệu giọng nói của bác sĩ, gần như tức thì, tôi cảm nhận một điều gì đó khá nghiêm trọng. Ngay tuần sau, các bác sĩ ENT cho tôi hay, bướu trên cổ tôi có dấu hiệu của bệnh ung thư vòm họng. Có lẽ không cần phải kể lại, tin đó chấn động ra sao. Khi tôi trở về nhà từ văn phòng bác sĩ cùng với Janes – bạn của tôi ở Northshore – chồng tôi đã đợi trước nhà. Không còn biết phải làm những gì để hy vọng, chúng tôi cùng đứng ngay ở đó cầu nguyện. Chúng tôi cầu Chúa luôn hiện hữu bên chúng tôi, hướng dẫn chúng tôi vượt qua thời điểm khó khăn này.
Chặng đường sáu tháng tiếp theo trong đời tôi hệt như khi ngồi trên xe trượt xuống dốc lao lên đèo liên tiếp. Chúng tôi như thể đã tìm được người chữa trị ung thư rất tốt ngay trong vùng, đó là hàng xóm, láng giềng (Konnie và David, những người cùng đến Northshore). Dù vậy, hầu như mỗi ngày tôi phải đến bệnh viện để điều trị. Biết rõ tại Mỹ gia đình tôi không ai ruột thịt thân thích, ngay từ đầu Janet đã cam đoan sẽ chăm sóc tôi. Tôi cảm thấy lo âu trong tôi dường như đã dịu bớt. Việc điều trị cần khoảng 6 tháng và tôi hiểu rằng tôi cần hỗ trợ vô cùng lớn từ tất cả bạn bè và gia đình để vượt qua bệnh tật hiểm nghèo. Mẹ chồng tôi và mẹ tôi đã cùng đến và ở đây 6 tháng để chăm sóc các con tôi. Bố chồng tôi và bố tôi cũng đến, về rồi đến ở đây.
Janet và Konnie lập một trang web rất hữu ích cho việc phối hợp những trợ giúp mà bạn bè của tôi đề xuất. Mỗi tuần hai lần, thường là vào buổi chiều, những người bạn của tôi đem đồ ăn, thức uống đến, nhiều khi cùng với cả hoa và thiếp. Hàng tuần, ai đó đã đến lau chùi dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và chăm sóc sân vườn của tôi. Các cây hoa được trồng tỉa, cỏ được cắt và dọn quang cây dại… Chúng tôi đã nhận nhiều lời khen từ những người trong khu lân cận về vườn của chúng tôi trong mùa hè vừa qua.
Hàng ngày một ai đó dừng xe trước cửa nhà đón tôi vào bệnh viện và sau đó một người khác lại lái xe đưa tôi trở về nhà vào buổi chiều. Hầu hết những người đến giúp đỡ đều ở Northshore. Tôi đã biết họ thông qua MOPS, sự nghiên cứu Kinh Thánh sáng Thứ ba, qua câu lạc bộ Awana… Tôi thậm chí không quen biết ngay cả một số người trong số họ cho đến khi họ hiện diện tại nhà tôi. Tôi nhớ một chiều khi mẹ tôi, người vừa đến Mỹ vài ngày trước, bước vào phòng tôi thì thào: “Có người nào đó ngoài cửa. Con xem họ là ai?” Bên ngoài, hóa ra đó là Leigh và mẹ cô ấy đến giúp đỡ với dụng cụ. Họ mang theo đủ mọi thứ cần thiết để chúng tôi đỡ băn khoăn.
Hai con trai nhỏ của tôi có rất nhiều hoạt động trong những ngày vui chơi của mùa hè, chúng thậm chí không nhận thấy mẹ chúng lâm bệnh nặng. Mary cùng con gái và cậu con riêng của chồng dành cả ngày đưa Danny và Minh đến tham quan vườn bách thú. Konnie chở các con tôi và các con cô ấy đến cùng tham gia kỳ nghỉ hè hai tuần của trường Bible ( nơi các con của cô học) rồi sau đó đưa đón bọn trẻ con 6 tuần liền tới những lớp dậy bơi. Từ hồi cô là hàng xóm của tôi, tôi có thể gửi các con của tôi sang nhà họ mỗi khi tôi cần nghỉ ngơi. Danny và Minh cũng được rủ đến chơi nhiều ngày tại những công viên gần đó với những trẻ em trong nhiều gia đình khác trong vùng Northshore . Thật là phước lành cho chúng tôi khi thấy hai con trai mình đã vui đùa thoải mái cùng chúng bạn trong những tháng ngày ấy.
Mái tóc của tôi đã rụng sạch sau 3 vòng trị liệu bằng hóa chất. Những bạn bè của tôi tại MOPS đã đan một lô mũ len cho tôi. Họ đem đến nhiều kiểu loại và màu sắc mà tôi có thể dễ dàng kết hợp với những bô quần áo của mình.
Tôi sẽ không bao giờ có thể vượt qua thời gian khó khăn này mà thiếu sự giúp đỡ từ những người bạn của tôi. Đó là một cuộc hành trình đầy gian nan và tôi thật sự vui mừng vì nó đã thuộc về quá khứ. Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn nhận được hoa và thiếp chúc mừng, những thư email và những cuộc gọi điện thoại hỏi thăm. Tôi thật sự tin tưởng rằng bạn bè của tôi chính là quà tặng từ Đức Chúa. Tôi biết ơn Chúa đã luôn ở bên tôi và giúp cho tôi những thứ tôi cần. Đức Chúa chính là niềm tin, hy vọng và cuộc sống của tôi.
Nguyễn Hồng Hà

No comments:

Post a Comment